Quyết định mỗi hộ gia đình được nhận tới 1.350.000 đồng/tháng, hiệu lực từ 5/10: Điều kiện để hưởng cụ thể ra sao?
Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội được Chính phủ ban hành ngày 21/8/2026, trong đó điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng và quy định lại nhiều chế độ trợ giúp, chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng.
Nhận chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng được hỗ trợ tối đa 1.350.000 đồng/tháng
Theo điểm d khoản 2 Điều 17 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng được hỗ trợ kinh phí theo các hệ số khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng được nhận chăm sóc.

Quyết định mỗi hộ gia đình được nhận tới 1.350.000 đồng/tháng, hiệu lực từ 5/10
Cụ thể, trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mỗi một người khuyết tật đặc biệt nặng được áp dụng hệ số 1,5. Với mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng, khoản hỗ trợ tương ứng là 810.000 đồng/tháng.
Đối với trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mỗi một trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng, hệ số được áp dụng là 2,5. Tính theo mức chuẩn mới, số tiền hỗ trợ tương ứng là 1.350.000 đồng/tháng.
Như vậy, từ ngày 5/10/2026, hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng có thể được hỗ trợ từ 810.000 đồng đến 1.350.000 đồng/tháng, tùy trường hợp.
Đáng lưu ý, đối với những hộ gia đình thuộc diện này đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP, mức trợ cấp tương ứng theo quy định mới đã được chuyển sang áp dụng từ ngày 1/7/2026 theo quy định chuyển tiếp của Nghị định 335/2026/NĐ-CP.
Mức chuẩn trợ giúp xã hội được nâng lên 540.000 đồng/tháng
Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng. Đây là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội.
Mức trợ cấp hoặc hỗ trợ cụ thể được tính bằng mức chuẩn 540.000 đồng nhân với hệ số tương ứng theo từng nhóm đối tượng và trường hợp.
Nghị định đồng thời quy định, trong điều kiện kinh tế - xã hội bảo đảm, UBND cấp tỉnh có thể trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội trên địa bàn cao hơn mức quy định chung.
Những ai được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội?
Bên cạnh chính sách hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, Điều 21 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định các nhóm đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.
Nhóm đầu tiên là đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong nhóm này có các đối tượng thuộc diện trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng theo Điều 5 của Nghị định; người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng không có điều kiện thực hiện; trẻ em khuyết tật và người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định pháp luật về người khuyết tật.
Nhóm thứ hai là các đối tượng cần được bảo vệ khẩn cấp. Những trường hợp này bao gồm nạn nhân của bạo lực gia đình; người bị ngược đãi, bỏ rơi hoặc bị xâm hại tình dục, thân thể; nạn nhân bị mua bán hoặc bị cưỡng bức lao động.
Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ được đưa về nơi cư trú cũng thuộc diện này. Ngoài ra, những đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp khác phát sinh đột xuất theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong phạm vi được HĐND cấp tỉnh phân cấp cũng được xem xét tiếp nhận.
Đối với các trường hợp cần bảo vệ khẩn cấp nêu trên, thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội tối đa không quá 3 tháng. Nếu hết thời hạn này mà chưa thể đưa đối tượng trở về gia đình hoặc cộng đồng, người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội sẽ xem xét, quyết định giải pháp phù hợp.
Ngoài ra còn có nhóm đối tượng tự nguyện
Nghị định 335/2026/NĐ-CP còn quy định nhóm đối tượng tự nguyện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.
Trong đó, người cao tuổi có thể sử dụng dịch vụ theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc. Những người không thuộc nhóm đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp hoặc người thuộc diện chăm sóc, nuôi dưỡng theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cũng có thể thuộc nhóm đối tượng tự nguyện.
Ngoài ra, người chưa thành niên và người không còn khả năng lao động thuộc diện chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cũng được Nghị định đưa vào nhóm đối tượng được áp dụng chính sách.
Các quy định mới nhằm xác định rõ hơn từng nhóm đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp xã hội, từ người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người cần được bảo vệ khẩn cấp đến những trường hợp sử dụng dịch vụ chăm sóc theo nhu cầu.
Hoa Ly
Theo Tạp chí Sở hữu trí tuệ & Sáng tạo (Đăng: 19/09/2026 | 11:07)