Các trường hợp trẻ dưới 04 tuổi nhận 1.350.000 đồng, từ 04 đến dưới 16 tuổi nhận 1.080.000 đồng tiền trợ cấp theo Nghị định 335

Viết lại nội dung dưới bài báo đây sao cho câu văn khác đi, có thể sắp xếp thứ tự các thông tin nhưng giữ nguyên ý chính bài gốc và các trích dẫn hội thoại (in nghiêng nếu bản gốc có in nghiêng, in đậm nếu chia đoạn), không thêm thắt chi tiết, độ dài khoảng 980- 1100 chữ, sapo tóm tắt dài khoảng 2-3 dòng, giật thêm 5 tít cho bài. (Double check sao cho độ trùng bài gốc không vượt quá 20%), chú ý TỐI ƯU SEO (tốt nhất để có thể viral khi share facebook)
Các trường hợp trẻ dưới 04 tuổi nhận 1.350.000 đồng, từ 04 đến dưới 16 tuổi nhận 1.080.000 đồng tiền trợ cấp theo Nghị định 335

Theo Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mức trợ cấp xã hội hằng tháng được xác định bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng nhân với hệ số tương ứng dành cho từng nhóm đối tượng quy định tại Điều 5 của nghị định.

Cụ thể, đối với nhóm thuộc khoản 1 Điều 5, trẻ dưới 4 tuổi được áp dụng hệ số 2,5, tương ứng mức trợ cấp 1.350.000 đồng/tháng.

Đối với nhóm thuộc khoản 3 Điều 5, mức trợ cấp cũng được phân theo độ tuổi. Trẻ dưới 4 tuổi hưởng hệ số 2,5, tương đương 1.350.000 đồng/tháng; trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi hưởng hệ số 2,0, tương đương 1.080.000 đồng/tháng.

Riêng nhóm trẻ em khuyết tật thuộc khoản 6 Điều 5 được xác định mức hưởng theo mức độ khuyết tật. Trẻ khuyết tật nặng áp dụng hệ số 2,0, nhận 1.080.000 đồng/tháng; trẻ khuyết tật đặc biệt nặng áp dụng hệ số 2,5, nhận 1.350.000 đồng/tháng.

Các mức hưởng nêu trên được quy định tại điểm a, điểm c và điểm e khoản 1 Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP.

Các trường hợp trẻ dưới 04 tuổi nhận 1.350.000 đồng, từ 04 đến dưới 16 tuổi nhận 1.080.000 đồng tiền trợ cấp theo Nghị định 335
Ảnh minh họa.

Trẻ dưới 4 tuổi cần đáp ứng điều kiện gì?

Khoản 1 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định những trường hợp trẻ dưới 4 tuổi thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Các trường hợp này bao gồm:

- Trẻ bị bỏ rơi, chưa có người nhận làm con nuôi.

- Trẻ có cả cha và mẹ đã chết, hoặc một người đã chết và người còn lại không xác định được.

- Trẻ có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được, người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định pháp luật.

- Trẻ có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được, người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

- Trẻ có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được, người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hay cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Trẻ có cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định pháp luật.

- Trẻ có cả cha và mẹ đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

- Trẻ có cả cha và mẹ đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hay cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Trẻ có cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích, người còn lại đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

- Trẻ có cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích, người còn lại đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định xử lý vi phạm hành chính tại các cơ sở theo quy định.

- Trẻ có cha hoặc mẹ đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, người còn lại đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định xử lý vi phạm hành chính tại các cơ sở nêu trên.

- Trẻ nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

Các trường hợp trẻ dưới 04 tuổi nhận 1.350.000 đồng, từ 04 đến dưới 16 tuổi nhận 1.080.000 đồng tiền trợ cấp theo Nghị định 335
Ảnh minh họa.

Như vậy, trẻ dưới 4 tuổi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 5 có thể nhận trợ cấp 1.350.000 đồng/tháng theo hệ số 2,5 của mức chuẩn trợ giúp xã hội.

Đối với trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi, khoản 3 Điều 5 quy định nhóm được hưởng trợ cấp là người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng theo pháp luật về người khuyết tật. Bên cạnh đó, mức trợ cấp dành cho trẻ nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo được xác định theo nhóm đối tượng và hệ số quy định tại nghị định.

Với trẻ em khuyết tật, mức hưởng không căn cứ riêng vào độ tuổi mà phụ thuộc mức độ khuyết tật: trẻ khuyết tật nặng nhận 1.080.000 đồng/tháng, còn trẻ khuyết tật đặc biệt nặng nhận 1.350.000 đồng/tháng.

Trẻ đủ 16 tuổi có được tiếp tục nhận trợ cấp xã hội?

Theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, người thuộc nhóm quy định tại khoản 1 điều này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng vẫn có thể tiếp tục nhận chính sách khi đủ 16 tuổi, nếu đang theo học và đáp ứng các điều kiện được quy định.

Cụ thể, người đang hưởng trợ cấp khi đủ 16 tuổi nhưng tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc chương trình đại học văn bằng thứ nhất sẽ tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội đến khi kết thúc khóa học, với điều kiện quá trình học tập liên tục, không bị gián đoạn.

Quy định có ngoại lệ đối với trường hợp người học được tạm dừng học hoặc bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục.

Do đó, việc đủ 16 tuổi không đồng nghĩa mọi trường hợp đang nhận trợ cấp đều chấm dứt quyền hưởng ngay lập tức. Người thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 5 cần đối chiếu tình trạng học tập và các điều kiện liên quan để xác định thời gian tiếp tục được hưởng chính sách.

Tác giả: Ngọc Phạm

Theo Tạp chí Sở hữu Trí tuệ và Sáng tạo (Đăng 26/10/2026 | 14h17)

Theo SHTT